Cá nhân, tổ chức chỉ được bán tín chỉ carbon rừng theo hợp đồng hoặc qua sàn giao dịch, và Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần xác nhận trước khi chuyển nhượng.
Đây là thông tin đáng chú ý trong Nghị định 180 do Chính phủ ban hành, có hiệu lực từ ngày 1/7.
Tín chỉ carbon là một loại giấy phép hoặc chứng chỉ có thể giao dịch, có giá trị mua bán và cung cấp cho người nắm giữ tín chỉ quyền phát thải một tấn CO2, hoặc loại khí khác nằm trong danh sách khí thải nhà kính.
Chủ rừng nắm quyền sở hữu tín chỉ carbon với rừng họ trồng. Họ có thể hợp tác, liên kết với tổ chức, cá nhân để thực hiện dự án, báo cáo, thẩm định, và trình thủ tục đề nghị cấp tín chỉ carbon.
Với rừng thuộc sở hữu toàn dân, Bộ Nông nghiệp và Môi trường là đại diện chủ sở hữu tín chỉ, được tạo ra từ dự án rừng do cơ quan chuyên môn thuộc Bộ thực hiện.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ ban hành phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân. Việc xác định giá phải bảo đảm bù đắp được các chi phí liên quan như xây dựng dự án, đăng ký, đo đạc, báo cáo, thẩm định, bảo vệ và phát triển rừng, cũng như hỗ trợ sinh kế cho cộng đồng.
Nguồn thu từ chuyển nhượng tín chỉ carbon rừng của các tổ chức quản lý rừng thuộc sở hữu toàn dân sẽ được ưu tiên quay trở lại cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, hỗ trợ sinh kế cộng đồng dân cư, xây dựng cơ sở dữ liệu lâm nghiệp và triển khai các dự án carbon rừng mới.
Bên cạnh việc mở ra cơ hội hình thành thị trường carbon rừng trong nước, nghị định cũng đặt ra giới hạn đối với hoạt động chuyển nhượng tín chỉ ra thị trường quốc tế nhằm bảo đảm thực hiện cam kết giảm phát thải của Việt Nam.
Theo quy định hiện hành, tín chỉ carbon thuộc 47 lĩnh vực như xe điện, năng lượng tái tạo, điện gió, điện mặt trời, rừng… được phép trao đổi quốc tế theo tỷ lệ nhất định.
Với tín chỉ hình thành từ điện gió ngoài khơi, trạm sạc hoặc thu giữ CO2 từ không khí, tỷ lệ được bán ra nước ngoài tối đa lên tới 90%. Riêng tín chỉ carbon từ rừng và điện sinh khối chỉ được chuyển nhượng tối đa 50%, phần còn lại phải giữ lại để phục vụ mục tiêu giảm phát thải quốc gia.
Chính phủ cũng nhấn mạnh việc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng phải bảo đảm công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, chủ rừng và các bên liên quan; đồng thời không được ảnh hưởng đến các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính mà Việt Nam tham gia.